Friday, August 24, 2018

360 động từ bất qui tắc Tiếng Anh - cứ thuộc đi rồi hãy học thêm những thứ khác


Trong 12 năm đi học Tiếng Anh mình đã gặp rất nhiều Động từ bất qui tắc khó nhằn, khó nhớ. Định bụng: phải làm một quyển sổ ghi chép hết lại số động từ bất qui tắc này rồi thống kê xem có bao nhiêu mà đến bây giờ mới làm được!
Nhất định phải chia sẻ cho tất cả mọi người, nhất là các em học sinh còn ngồi trên ghế nhà trường, còn phải đối mặt với Tiếng Anh trong các kỳ thi dài dài...

https://drive.google.com/file/d/1NODa29VD-pq7S1yLrFX3raHtToE7mXIs/view?usp=sharing




Thursday, August 16, 2018

"Một hai nghiêng nước nghiêng thành" - Câu thơ khó lí giải, cắt nghĩa nhất trong truyện Kiều


Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du ba ln nhc tới vẻ đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Kiều, khi thì m Kim Trọng thở than, khi làm Thúc Sinh thẫn thờ, và lần đầu tiên thành ngữ này xuất hiện ở trích đoạn “Chị em Thúy Kiều”.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
            Bấy lâu nay, một số giáo viên khi giảng đến đoạn này đều không giảng kỹ cho các học sinh hiểu ý tứ của cụm từ được ghép bởi hai số từ rất lạ “Một hai”này. Như vậy, tại sao thi hào Nguyễn Du lại dùng “một hai” mà không dùng “ba bốn” hay “năm sáu”? Chúng ta phải đi sâu tìm hiểu kỹ thành ngữ này gắn vì nó liền với một giai thoại khá dài dòng và không dễ hiểu hết cho được.
Ðời nhà Hán, Vua Vũ Ðế (140- 86 trước Dương lịch) vốn người háo sắc. Vua không than thở vì mình chưa làm gì cho dân được hạnh phúc cơm no áo ấm, mà ngược lại, thường than thở trong đời mình chưa gặp được người đẹp nào vừa lòng để âu yếm trong vòng tay. Nhà vua thường trách:
 - Trẫm xây đài Minh Quang kén hai ngàn gái đẹp ở vùng Yên, Triệu. Qúa 30 tuổi sa thải, cho về quê. Thế mà trong đài có trên mười ngàn gái đẹp nhưng chưa có một ai đẹp cho vừa lòng trẫm. Thật là thiên hạ thiếu giai nhân tuyệt sắc!
            Bấy giờ có người phường chèo danh tiếng tên Lý Diên Niên hầu trong nội điện, có người em gái sắc đẹp tuyệt vời đương làm nàng hầu cho công chúa Bình Dương. Nghe Vua than như thế, nhân một hôm hát chầu Vua, Lý hát một bài:
Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập
Nhất cố khuynh nhân thành
Tái cố khuynh nhân quốc
Khởi bất tri
Khuynh thành dữ khuynh quốc
Giai nhân nan tái đắc
        Nghĩa:
Phương Bắc có giai nhân
Tuyệt vời đứng riêng bực
Một nhìn (liếc) người nghiêng thành
Nhìn lại (hai liếc) người nghiêng nước
Lẽ nào không biết được
Người đẹp thành nước nghiêng
Người đẹp khó tìm gặp
            Nghe hát, nhà Vua thở dài:
 - Thế gian quả có người đẹp đến thế chăng?
     Công chúa Bình Dương nhân đứng hầu bên cạnh, tâu:
 - Diên Niên có người em gái đẹp tuyệt trần, còn hơn người trong bài hát ấy nữa.
     Nhà Vua truyền đòi vào xem mặt. Qủa là một giai nhân tuyệt sắc. Nàng lại còn giỏi nghề múa hát. Nhà Vua đắm đuối say mê, liền phong nàng làm Lý phu nhân, từ ấy quyến luyến không lúc nào rời.


            Sau nàng đau bệnh mà chết, khiến Vũ Đế khóc ngất như trẻ thơ, sai đào ao Côn Linh, kết thuyền hình chim phượng thả trong ao đi chơi giải buồn. Vũ Đế còn sai người lấy nến bằng mỡ rồng soi vào khoang thuyền để tìm lại hình ảnh Lý phu nhân... Văn nhân Trung Hoa cũng nhiều người dùng chữ “khuynh thành” để tả giai nhân. Kiều vốn đẹp như vậy đó, mà tài thì cũng không kém. Ở đây có chữ “đòi” trong “sắc đành đòi một tài đành họa hai” là chữ cổ, nghĩa là “nhiều phần”. Để nói về sắc thì chỉ có một người như nàng; còn về tài “cầm kỳ thi họa”, may ra thế gian có được người thứ hai. Kiều được trời ban cho trí thông minh thiên bẩm nên mới gọi là “thông minh vốn sẵn tính trời”. Từ nhỏ, nàng chẳng những biết làm thơ, vẽ tranh, mà còn rất mực tài hoa trong việc đánh đàn và sáng tác nhạc.



Sunday, August 12, 2018

THẦN TRỤ TRỜI - thần thoại cổ đại Việt Nam


THẦN TRỤ TRỜI
Thuở ấy, chưa có muôn vật và loài người. Trời đất chỉ là một vùng hỗn độn, tối tăm. Bỗng xuất hiện một vị thần khổng lồ, cao lớn vô cùng, chân dài không sao tả xiết. Mỗi bước thần đi là băng từ vùng này qua vùng khác, vượt từ núi nọ sang núi kia.
Một hôm, thần vươn vai đứng dậy, ngẩng đầu đội trời lên. Thần đào đất, khuân đá, đắp thành một cái cột vừa to, vừa cao để chống trời. Cột đắp lên cao chừng nào thì trời như tấm màn mênh mông được nâng dần lên chừng ấy. Thần một mình hì hục đào, đắp, cột đá cứ cao dần, cao dần và đẩy vòm trời lên tận mây xanh.
Từ đó, trời đất mới phân đôi. Đất bằng như cái mâm vuông, trời tròn như cái bát úp, chỗ trời đất giáp nhau ấy là chân trời.
Khi trời đã cao và khô cứng, thần liền phá tan cột đi, lấy đất đá ném tung ra khắp nơi. Mỗi hòn đá văng đi biến thành một hòn núi hay một hòn đảo, đất tung tóe ra mọi nơi thành gò, đống, thành những dải đồi cao. Vì thế, mặt đất ngày nay không còn bằng phẳng mà có chỗ lõm, chỗ lồi. Chỗ thần đào sâu để lấy đất đá đắp cột, ngày nay là biển cả mênh mông.
Cột trụ trời bây giờ không còn nữa. Người ta kể rằng vết tích cột đó ở núi Thạch Môn, vùng Hải Dương. Núi ấy còn gọi là Kình Thiên Trụ tức Cột chống Trời.
Sau khi thần Trụ Trời chia ra trời đất thì có những thần khác nối tiếp công việc xây dựng nên cõi thế gian này. Các vị thần đó rất nhiều, như thần Sao, thần Sông, thần Núi, thần Biển...
Vì vậy, dân gian có câu hát còn truyền đến ngày nay:
Ông đếm cát
Ông tát bể (biển)
Ông kể sao
Ông đào sông
Ông trồng cây
Ông xây rú (núi)
Ông trụ trời...

Tuesday, August 7, 2018

Chùm thơ Tự Tình 3 bài thơ - Nỗi buồn thân phận nữ nhi trong xã hội Phong Kiến

Tự Tình I

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rền rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!


Tự Tình II

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!

Tự Tình III


Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.
Lưng khoang tình nghĩa đường lai láng,
Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.
Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến.
Dong lèo thây kẻ rắp xuôi ghềnh.
Ấy ai thăm ván cam lòng vậy,
Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

CHÚ THÍCH:

(1) Chiếc bách: Chiếc thuyền gỗ bách trong văn học gợi hình ảnh tâm trạng một người đàn bà goá trẻ với bài thơ Bách chu trong Cổ thi.

(2)-(3) Tình và nghĩa vẫn đương còn chan hoà dào dạt. Sóng gió vẫn cứ đe doạ liên tiếp vỗ vào bên ngoài mạn thuyền. Tâm trạng chung của bốn câu đều là buồn rầu ngao ngán cho thân phận.
(4)-(5) Dự định của ai lăm le cầm lái để đưa thuyền đậu vào bến, cũng như kẻ rắp tâm dong lèo để cho cánh buồm vượt qua ghềnh thác mà trôi xuôi cũng đành buông xuôi, vì tâm hồn của nhân vật trữ tình đã không còn tha thiết.
(6)-(7) Còn ai nữa là người sẽ tìm đến với mình (thăm ván)? Nếu việc ấy xảy ra thì cũng cam lòng. Mặc dầu cũng chẳng hay gì với chuyện tập tễnh ôm đàn sang thuyền người khác, song tình thế cũng không thể khác được.
Cổ thi có câu: "Khẳng bả tỳ bà quá biệt thuyền" nghĩa là không chịu ôm đàn tỳ bà sang thuyền người khác, để nói việc không chịu lấy chồng khác. Tục ngữ "Thăm ván bán thuyền" ở đây vận dụng chỉ có nghĩa là "người mới", không phải ý "có mới nới cũ".