Sunday, July 22, 2018

Truyền thống gian lận trong thi cử dưới các triều đại Phong kiến Việt Nam

Nhà bác học Lê Quý Đôn từng vướng phải một vụ án gian lận thi cử gây chấn động triều đình phong kiến Lê - Trịnh lúc bấy giờ.

      Trong xã hội phong kiến xưa, phép thi cử vốn rất ngặt nghèo để hạn chế gian lận và tìm được người tài thực sự. Không cứ là con cháu công hầu, danh tướng hay thứ dân, tất cả đều bình đẳng với nhau trong trường thi. Ấy vậy nhưng trong lịch sử tồn tại của chế độ khoa cử xưa, rất nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, không nhiều thì ít đều vướng vào câu chuyện gian lận này. Chỉ ham công danh cho con cháu một lúc mà tiếng xấu lưu danh muôn thuở.

       Nếu xét về trí tuệ, hiếm có nhà bác học nào trong Việt Nam trong lịch sử có trí tuệ toàn tài như Lê Quý Đôn. Vậy mà Lê Quý Đôn, một nhà văn hóa, một trí thức vĩ đại được người đời sau ngưỡng mộ và kính nể lại không vượt qua những yêu thương thường tình của con người, thương con một cách thiếu trí tuệ dẫn đến hậu quả khôn lường cho danh tiếng cả đời mình.  Một trong những tai tiếng đó là việc ông trở thành nguyên nhân chính khiến cho một thần đồng Việt dính líu tới một vụ gian lận thi cử nổi tiếng trong lịch sử, phải chịu cảnh lưu đày biệt xứ và chịu một kết cục bi thảm.

Nghi án “cá chuối đắm đuối vì con”?

      Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) chép về vụ án gian lận thi cử có liên quan tới nhà bác học Lê Quý Đôn như sau: “Tháng 10, mùa đông. Mở khoa thi hội các cống sĩ. Cho bọn Ngô Thế Trị và Phan Huy Ích cùng 18 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân; xử tội Đinh (Thì) Trung đày đi viễn châu, giam Lê (Quý) Kiệt vào ngục.

        Quý Kiệt là con Quý Đôn. Kỳ đệ tứ khoa thi này (tức khoa thi năm 1775 – PV), Quý Kiệt cùng Đinh (Thì) Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh (Thì) Trung phải tội lưu đi Yên Quảng (nay thuộc Quảng Ninh), Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh (Thì) Trung nhân phát hiện bức thư riêng của Quý Kiệt và tố cáo là do Quý Đôn chủ sự.

        Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục ở Cửa Đông”. Sau khi chép những lời này, phần lời bình của cuốn sách chép tiếp: “Hai người cùng một tội mà xử phạt khác nhau, sao có thể gọi là công bằng được? Xét hành trạng của Quý Đôn, không có một điều gì đáng khen”.

       Đinh Thì Trung theo các tài liệu ghi chép, quê ở làng Cổ Bôn, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông từ nhỏ vốn rất thông minh, được coi là thần đồng. Năm 14 tuổi Đinh Thì Trung đỗ hương cống (tức Cử nhân) và được đưa vào học trường Quốc Tử Giám để thi Hội. Cùng vào học đợt này còn có Lê Quý Kiệt, là con của bảng nhãn Lê Quý Đôn.

      Nếu xét về địa vị xã hội thì Quý Kiệt hơn Thì Trung rất nhiều nhưng về tài năng văn học lại có vẻ không bằng. Tương truyền Lê Quý Đôn thỉnh thoảng muốn kiểm tra tài năng bằng cách hỏi sách vở, thơ phú thì Thì Trung đều tỏ ra hiểu rộng, biết nhiều. Danh tiếng của ông trên đất kinh kỳ vang dội, đến tai cả chúa Trịnh Sâm.


Gian lận thi cử bị xử rất nặng trong thời phong kiến (ảnh: Chòi canh tại trường thi Nam Định, khoa Đinh Dậu 1897)

     Tháng 10 năm Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775) triều đình tổ chức khoa thi Hội. Cả Quý Kiệt và Thì Trung cùng đi thi với nhau. Theo giai thoại dân gian thì lúc bấy giờ trong triều tranh luận khá sôi nổi về việc trong hai người này ai sẽ đỗ đầu, trong đó có cả vua và nhà chúa. Vua Lê cho rằng Lê Quý Kiệt sẽ đỗ trạng nguyên. Còn chúa Trịnh Sâm lại đoán là Đinh Thì Trung.

    Ngày thông báo kết quả thì Quý Kiệt đỗ đầu. Chúa Trịnh không chịu bèn truyền cho khảo quan đem bài thi xét lại và phát hiện thấy bài có chữ viết của Thì Trung thì đề tên Quý Kiệt và ngược lại. Thế là việc đánh tráo bài thi bị lộ, gây xôn xao trong triều, ngoài nội. Cả hai đều bị hủy bỏ kết quả thi, tước hết bằng cấp. Đinh Thì Trung bị xử đày ra tận vùng Đông Hải (có sách chép là Yên Quảng nhưng đều thuộc vùng Quảng Ninh ngày nay – PV), còn Lê Quý Kiệt thì bị tống giam, sau đuổi về quê ở Thái Bình làm dân thường và cấm không được đi thi nữa.

      Tác giả Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) trong sách Lê quý dật sử cũng chép câu chuyện gian lận chấn động này. Tác giả này cũng chép chuyện Đinh Thì Trung tố cáo Lê Quý Đôn chủ mưu trong việc đổi quyển thi nhưng Trịnh Sâm không xét tới. Vì thế giới nho sĩ bấy giờ đã sáng tác ra hai câu thơ mỉa mai chuyện gian lận trên như sau: “Quý Kiệt hoàn dân tăng Diên Hà chi dân số, Thì Trung phát phối, chấn Đông Hải chi văn phong”. Dịch nghĩa là: “ Quý Kiệt bị đuổi về, Diên Hà tăng thêm dân số. Thì Trung lưu đày xa, Đông Hải chấn chỉnh lại văn phong”.

Số phận bi thảm của thần đồng Việt

      Tác giả Quốc Chấn trong sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam viết rằng, các giai thoại địa phương chép Đinh Thì Trung từ nhỏ đã được coi là thần đồng. Khi mới lên bốn tuổi, một hôm thấy bố đọc sách, ông đòi bố dạy cho mình học đọc. Nghe vậy, người bố chưa tin nhưng cũng bày thử cho Thì Trung vài chữ xem sao.

   Đều kỳ lạ là ông bố viết chữ nào ông nhớ ngay chữ đấy, nói nghĩa chữ nào là ông hiểu chữ đó. Người bố mừng lắm bèn gửi con đến một thầy đồ trong vùng vốn là thầy học cũ của mình để nhờ kèm cặp. Lúc đó thầy đang uống rượu, nhìn thấy Đinh Thì Trung bé choắt, nói đùa: “Tửu”, đối được ta sẽ dạy. Không ngờ Thì Trung đối ngay bằng chữ “Đăng”.

         Nếu xét theo phép ghép chữ ngày xưa thì chữ Tửu (rượu) gồm bộ thủy ghép với chữ dậu. Còn “Đăng” (đèn) thì gồm bộ hỏa ghép với chữ đinh. Hai chữ trên đối nhau cả về can chi (Đinh với Dậu) và ý nghĩa (thủy với hỏa). Năm 14 tuổi thì ông đỗ Hương Cống và được vào học trường Quốc Tử Giám với con cái của nhiều bậc công hầu, danh sĩ.


Lê Quý Đôn là nguyên nhân khiến thần đồng Đinh Thì Trung chết yểu?

       Sử sách chép rằng tính tình Thì Trung vốn rộng rãi với bạn bè và cũng có mối quan hệ thân thiết với gia đình Lê Quý Đôn. Không biết có phải vì mối quan hệ thân thiết đó mà ông chấp nhận đổi quyển thi với con trai của Lê Quý Đôn hay không? Và cũng từ đó mà gây nên bi kịch nổi tiếng cho một tài năng văn chương sớm nở tối tàn.

      Hiện nay có nhiều thuyết nói về cái chết của Đinh Thì Trung. Giai thoại địa phương được sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam dẫn lại rằng, sau khi bị đi đày mấy năm, vì ưu ái tài năng văn chương của ông nên chúa Trịnh đã tha cho Thì Trung. Tuy nhiên khi ông đang trên đường về thì chẳng may đã bị bọn cướp biển bắt giết. Khi đó Đinh Thì Trung mới 16 tuổi. Thuyết khác thì nói rằng ông bị cướp biển bắt nhưng không chịu khuất phục chúng nên đã nhảy xuống biển tự vẫn.

       Trong khi đó số phận của Lê Quý Kiệt tươi sáng hơn nhiều. Sau khi nhà Nguyễn lập, Quý Kiệt vì có công dâng sách quý của cha lên vua Gia Long nên đã được bổ nhiệm làm quan, cho giữ chức Thị trung Trực học sĩ và giao cho việc dạy dỗ các Hoàng tử.

        Sau này vua Gia Long cũng rất quý và tin tưởng ông. Sách Quốc sử di biên do Thám hoa Phan Thúc Trực (làm quan thời vua Tự Đức) có chép sự kiện như sau: “Trước đây sai Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng; Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vua cho là lạ ngày càng khen thưởng”.

Vậy là hai người cùng phạm tội như nhau nhưng số phận mỗi người lại quá khác nhau. Việc này không khỏi gây ra những nỗi bi cảm cho hậu thế sau này.

Luật thi cử hiện nay chưa chắc đã nghiêm khắc bằng ngày xưa?

      Nhà khảo cứu sử học hải ngoại Nguyễn Thị Chân Quỳnh (nguyên giảng viên đại học Paris IV) đã từng nhận xét: “Gian lận thi cử thì thời nào cũng có, song khoa cử ba năm mới tổ chức một lần, tỉ lệ số người đỗ mỗi khoa lại rất ít, người đỗ danh vọng cao, quyền uy nhiều cho nên người học trò đi thi rất dễ bị cám dỗ, miễn sao chóng được thi đỗ để ra làm quan. Song vì một số người gian lận mà chê khoa cử tổ chức thiếu nghiêm mật e không đúng. Quả thật cha ông ta đã nghĩ hết cách để phòng ngừa, thiết tưởng đời nay chưa chắc đã bằng”.

Phạm Thiệu

6 "nấc thang" đưa con người đến thành công ngoài sức tưởng tượng!!!

Cảm ơn thầy Nguyễn Thành Tiến đã chia sẻ cách ghi chép những quyển sổ cần thiết và bổ ích với mỗi người.
Trong nhiều năm, tôi ĐAU ĐẦU tìm các giải pháp PHÁT TRIỂN bản thân & cải thiện kỹ năng. Sau đó nhờ may mắn, tôi được biết Bí quyết 6 QUYỂN SỔ THÀNH CÔNG ….
Thiên tài trên nhiều lĩnh vực người Ý, Leonardo da Vinci có ghi chép tay trên 30 quyển, trong đó 1 quyển nổi tiếng nhất là Codex Leicester viết khoảng năm 1508 được Bill Gates mua lại giá 30,8 triệu $ vào năm 1994.
Cuốn sổ tay này có 72 trang, viết bằng kỹ thuật viết ngược – tức là phải dùng gương chiếu các trang viết mới đọc được. Hiện nay quyển sổ tay này trị giá trên dưới 50 triệu $, là quyển sổ thuộc loại đắt nhất nhì thế giới.

Bill Gates mua 30,8 triệu $ năm 1994
Richard Branson (tỷ phú sáng lập Virgin) và rất nhiều tỷ phú $ khác cũng đều sở hữu những quyển sổ tay của riêng mình.
Trong bài viết này, tôi sẽ chia sẻ với bạn nguyên lý của 6 quyển sổ :
1) SỔ THÔNG THÁI :
Đôi khi 1 thông tin bạn đọc từ facebook, đọc từ 1 quyển sách, xem video, nghe audio hoặc do 1 người khác chia sẻ lại, hầu hết mọi người đều GẬT GÙ THẤY HAY, độc đáo, thú vị … và QUÊN DẦN DẦN.
Jim Rohn nói : DON’T TRUST YOUR MEMORY ! (Đừng tin vào trí nhớ của bạn)
Vì thế khi nghe, xem, học, đọc, được chia sẻ hoặc bạn tự giác ngộ điều gì đó hay, hãy ghi chú và tóm tắt lại theo ý hiểu của bạn vào quyển sổ này.
——
Lợi ích là gì ?
Sau 1 thời gian, bạn sẽ sở hữu rất nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu hay ho mà chính bạn đọc lại cũng phải ngỡ ngàng – không thể tin được là do chính mình viết ra.
Không phải lúc nào não bộ cũng đạt tình trạng trí tuệ cao hoặc giác ngộ, khoảnh khắc đó thường trôi qua rất nhanh, nếu bạn không ghi chép, tổng hợp lại ngay khi xuất hiện ý tưởng, bạn sẽ nhanh chóng quên mất hoặc nhớ không chính xác.
SAI LẦM là thường không tổng hợp & đúc kết kiến thức, BIẾN CỦA NGƯỜI KHÁC THÀNH CỦA MÌNH, nên hầu hết mọi người thường mau quên.
Mặt khác, nếu không đem vào ứng dụng ngay, họ không thể chuyển hóa từ BIẾT sang HIỂU.
—————-
Trong phật giáo có 3 phương cách để có được TRÍ TUỆ đó là : VĂN – TƯ – TU.
VĂN là học hỏi LÝ THUYẾT.
TƯ là TƯ DUY. Học hỏi là phải gạn lọc, suy nghĩ , không nên chỉ rập khuôn.
TU là THỰC HÀNH. Vận dụng lý thuyết vào thực tế và tự mình kiểm chứng lý thuyết.
Hiểu được 3 khái niệm này bạn có thể vận dụng trong rất nhiều trường hợp.
——
Ví dụ 1 : Tự học
Một số người đọc sách – đó mới chỉ là Văn (lý thuyết)
Nếu không suy nghĩ, thảo luận, đặt câu hỏi – tức là chưa có TƯ (tư duy)
Có suy luận, suy nghĩ, nhưng chưa vận dụng – tức là chưa có TU (thực hành).
Nếu bạn nghe 1 người thành công chia sẻ kinh nghiệm, tức là TU của người này trở thành VĂN của người kia.
Bạn có đang tự soi lại mình và lên chiến lược phù hợp ko ?
——
Ví dụ 2 : Thực trạng việc đào tạo
Nhìn chung hiện nay, tỷ lệ VĂN (lý thuyết) quá nhiều.
TƯ (suy nghĩ, thảo luận, phát biểu) thì có 1 số nơi có.
Còn TU (thực hành) còn hạn chế.
Bạn có đang nghĩ đến thực trạng đào tạo từ tiểu học đến đại học nói chung ko ?
——-
Ví dụ 3 : Vận dụng cho việc bạn đào tạo cho nhân viên, cho con cái, cho học viên, cho những người xung quanh.
Ưu tiên và chú trọng vào đâu, có đủ VĂN – TƯ – TU chưa ?
VĂN – TƯ – TU là con đường để đi đến GIÁC NGỘ !
Sổ thông thái là bước đi đầu tiên trên hành trình đó.
———————

2) SỔ MỤC TIÊU – Ý TƯỞNG & CHIẾN LƯỢC & KẾ HOẠCH :
Đây là quyển sổ bạn ghi các mục tiêu hàng tháng & hàng năm.
Các chiến lược & kế hoạch mà bạn sẽ triển khai.

Việc lập mục tiêu sẽ nằm ở 1 chuyên đề khác để bàn sâu hơn.
Về cơ bản, bạn ghi ra những điều mình MUỐN.
Có thể ở những lĩnh vực chính yếu như sau :
1-Tài chính (Ví dụ : Số tiền kiếm được, thu nhập, tổng tài sản ….)
2-Phát triển bản thân (Ví dụ : Học kỹ năng đàm phán, lãnh đạo, ngoại ngữ….)
3-Sức khỏe (Ví dụ : Cân nặng, chiều cao, chơi môn thể thao…)
4-Giải trí (Ví dụ : Đi du lịch….)
5-Cống hiến (Ví dụ : Giúp ai đó, từ thiện, cho đi giá trị….)
6-Mối quan hệ (Ví dụ : Lập gia đình, có con…)
——
ĐIỀU QUAN TRỌNG :
Đầu tháng bạn viết ra các mục tiêu.
Cuối tháng bạn xem lại mình làm được, hoàn thành bao nhiêu việc và ghi ở phần KẾT QUẢ.
SAI LẦM :
1) Hầu hết mọi người không có mục tiêu
2) Hoặc Không có mục tiêu đầy đủ :
Ngắn hạn (tuần, tháng), trung hạn (1 năm), dài hạn (3-10 năm)
3) Không tập trung hoàn thành mục tiêu
4) Đặt những mục tiêu quá viển vông hoặc quá đơn giản.
———
Lợi ích QUYỂN SỔ là giúp bạn TẬP TRUNG hoàn thành mục tiêu & GIÁM SÁT chính mình.
Mài giũa kỹ năng THIẾT LẬP MỤC TIÊU là 1 trong những kỹ năng quan trọng bậc nhất .
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cuối tháng bạn thấy mình ko hoàn thành MỤC TIÊU nào ?
(Bạn biết bằng mọi giá tháng sắp tới mình phải hoàn thành hoặc nên đặt mục tiêu vừa có tính thách thức, vừa có tính khả thi ?)
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cuối tháng bạn thấy mình hoàn thành 4/5 mục tiêu.
Rất hài lòng và hào hứng cho tháng tiếp theo phải ko ?
—–
GHI NHỚ :
Không biết mình muốn gì thì sẽ không bao giờ đạt được điều mình muốn, và tiếp tục 1 cuộc đời “bèo dạt mây trôi”….
—–

3) SỔ NHẬT KÝ THÀNH CÔNG :
1 trong những cảm xúc tệ nhất của hầu hết mọi người đó là KHÔNG HÀI LÒNG.
Không hài lòng về bản thân, không hài lòng về hiện tại ….
Càng không hài lòng họ càng chán nản; suy nghĩ, hành động tiêu cực và càng thất bại.
——
Hãy để tôi chia sẻ cho bạn 1 bí mật :

THÀNH CÔNG HẤP DẪN THÀNH CÔNG !
Sổ nhật ký thành công là quyển sổ 1-5 ngày bạn ghi lại 1 lần về những điều mình đã làm được, điều mình làm tốt hoặc chỉ đơn giản là 1 điều tích cực.
VÍ DỤ :
Ngày 10/02/2016
1) Gặp được 1 người tên A, chia sẻ về …. Rất hay
2) Giúp được 1 người B 1 việc nhỏ : …..
3) Đọc được 1 quyển sách hay : …..
4) Đi làm đúng giờ….
5) Nảy sinh 1 ý tưởng có thể hay : …..
6) Dậy sớm lúc …. để làm việc C
—–
LƯU Ý :
Ghi thật vắn tắt chỉ 5-10 ý, mỗi ý 1 câu, ngắn gọn đừng ghi dài dòng như nhật ký (mặt dù tên quyển sổ là nhật ký thành công.)
Tại sao ?
Vì làm như vậy ngày nào bạn cũng làm được, nếu bạn ghi nhật ký dài cả trang, ôi có lẽ sờ vào bạn sẽ phát ngán không muốn động bút cho lần tiếp theo. Có ngày bạn chỉ có 2-3 thành công hoặc việc hoàn thành nhỏ cũng được, hãy ghi lại.
——
TÁC DỤNG quyển sổ này là gì ?
Khi bạn ghi ra những điều này, cảm xúc tích cực dâng lên trong bạn.
HÀI LÒNG VỀ BẢN THÂN !
Bạn có thể suy nghĩ, hôm nay hoặc vài ngày qua thật tuyệt vời, TIẾP TỤC THÔI.
Lâu lâu bạn đọc lại để nhớ về những KHOẢNH KHẮC CHIẾN THẮNG, thấy mình THẬT TUYỆT !
Và hãy nhớ :
DUY TRÌ CẢM XÚC TÍCH CỰC VỀ THÀNH CÔNG và
THÀNH CÔNG NHỎ SẼ THU HÚT THÀNH CÔNG LỚN. !
————–

4) SỔ TÀI CHÍNH CÁ NHÂN :
Tỷ phú người Mexico Carlos Slim (thường nằm trong top 5 người giàu nhất thế giới) không phải là người có trí nhớ siêu phàm, nhưng đến nay ông vẫn giữ những cuốn sổ ghi chép chi tiêu từ khi còn là một cậu bé được cha mẹ cho tiền tiêu vặt.

Sinh ra trong gia đình giàu có, nhưng Carlos Slim đã được cha huấn luyện từ nhỏ về chi tiêu chặt chẽ và khôn ngoan trong vấn đề tài chính. Được biết, một trong những cuốn sổ chi tiêu hồi nhỏ của Carlos có viết: “Hôm nay tôi mua một chai nước ngọt giá 70 xu. Hôm nay tôi mua hai chiếc bánh kem, hai cuốn album, hai chiếc bánh rán”.
Dù bạn sở hữu doanh nghiệp hay không, bạn đều cần có quyển SỔ THU CHI CÁ NHÂN.
Quyển sổ thường có 4 cột chính :
1- Ngày tháng (hoặc số thứ tự)
2 – Công việc, nội dung
3 – Thu
4 – Chi
Đây là quyển sổ bạn thống kê lại các hoạt động thu chi cá nhân hoặc doanh nghiệp của mình.
Ví dụ :
1) Mua đồ A – 250k (cột CHI)
2) Trả tiền người B – 3 triệu (cột CHI)
3) Thu 1 khoản tiền C – 10 triệu (cột THU)

Nếu có ai đó đã trả 1 khoản và còn nợ 1 khoản, bạn có thể dùng bút đỏ khoanh tròn….Hoặc khoanh tròn các chi phí cần kiểm tra, lưu ý thêm.
Tác dụng quyển sổ này là gì ?
1- Kiểm soát tài chính cá nhần
2- Phát triển thói quen quản lý tiền bạc
Ví dụ :
Thỉnh thoảng bạn nhìn lại cột thu chi, có thể bạn thấy mình đang “chảy máu” với tốc độ không dừng được .
Cũng có thể bạn kinh ngạc vì không ngờ chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần mình đã tiêu 1 khoản tiền khủng khiếp.
Cũng có thể bạn tự trách mình về 1 khoản chi mà đáng nhẽ bạn có thể kiểm soát, giảm bớt hoặc cắt hẳn nếu thông minh hơn.
Có ngày bạn giật mình vì 1 khoản tiền mà bạn quên không đòi hoặc chưa giải quyết.
Bạn hiểu ý tôi chứ ?
SỔ THU CHI chỉ là 1 trong vài chục kỹ thuật quản lý tiền bạc .
SỰ THẬT :
6 cái lọ quản lý tiền (T.Harv Eker đào tạo) được ca ngợi là phương pháp quản lý tiền hay nhất thế giới – cũng hay nhưng thực ra là hoàn toàn không đủ để bạn quản lý tiền !
Bạn cần hiểu biết nhiều hơn thế rất nhiều.
Ghi nhớ :
Hãy kiểm soát con quỷ chi tiêu trong bạn và rèn luyện thói quen kỷ luật.
Hãy bắt đầu ngay hôm nay với SỔ THU CHI CÁ NHÂN.
——–

5) SỔ QUAN HỆ :
Năm 1968, Bill Clinton đang học đại học Oxford, ông gặp 1 sinh viên sau đại học tên Stamps tại 1 buổi tiệc. Bill lấy ra 1 quyển sổ ghi chép màu đen và hỏi :
-Anh đang làm gì tại Oxford ?
-Tôi đang học tại Pembroke nhờ học bổng Fulbright
Bill ghi chú Pembroke vào sổ và tiếp tục hỏi về trường và ngành mà Stamps đã tốt nghiệp cử nhân. Stamps ngạc nhiên hỏi :

– Bill, sao anh phải viết hết mọi thứ ra
-“Tôi sẽ chuyển sang làm chính trị, tôi sẽ tranh cử thống đốc bang, tôi muốn ghi lại tất cả những người tôi đã gặp gỡ”. Bill cho biết.
Câu chuyện này do Stamps kể lại càng làm nổi bật phong cách thẳng thắn của Bill Cliton trong việc yêu cầu giúp đỡ hay lôi kéo người khác tham gia sứ mệnh của mình.
Thực tế, ngay từ sinh viên, vị tổng thống thứ 42 này đã có 1 thói quen là hàng đêm ghi lại trên giấy những tấm thẻ tên và các thông tin quan trọng của những người ông gặp trong ngày.
SỔ QUAN HỆ là quyển sổ ghi chép lại các mối quan hệ chất lượng của bạn.
Bạn có thể liệt kê 1 cách vắn tắt và đơn giản thông tin về các mối quan hệ như họ tên đầy đủ, ngày tháng năm sinh (sinh nhật), nghề nghiệp và năng lực, mối quan hệ khác của họ…..
——
Thực tế cuộc đời của bạn thay đổi thường bởi 2 điều :
1 là những quyển sách mà bạn đọc.
2 là những người mà bạn gặp !
——-
Có 1 công thức khá hay :
QUAN HỆ + QUAN HỆ + QUAN HỆ + ….. = TẤT CẢ
Có thể nhiều người biết nhưng ít người hiểu cách vận dụng.
Lợi ích Việc ghi chép SỔ QUAN HỆ nhắc nhở bạn duy trì kết nối hoặc dành thời gian hỗ trợ chéo, giúp đỡ người khác và để nhận sự giúp đỡ khi cần thiết.
——-
SAI LẦM :
Trung bình 1 người có từ 200-300 mối quan hệ.
Hầu hết mọi người đều có 1 vài mối quan hệ chất lượng, đôi khi có thể chỉ là những lần gặp thoáng qua nhưng rất ít người ghi chép lại điều này. 1 dạng quan hệ nữa là quan hệ bắc cầu. Tức là bạn quen người A là 1 người bình thường, nhưng người đó lại khá thân thiết với người B – 1 người có năng lực mà bạn đang cần B giúp đỡ.
Đáng tiếc là khi bạn bế tắc, ít khi bạn nghĩ đến mạng lưới quan hệ để xử lý mà có thể bạn xử lý mọi việc theo bản năng hoặc thói quen.
Nếu trong mạng lưới của bạn có 1 MENTOR (người đỡ đầu), người có đủ tố chất, năng lực và kinh nghiệm thì cuộc đời của bạn sẽ tăng tốc chóng mặt trong 1 khoảng thời gian rất ngắn.
—–
Để học hỏi thêm về các chiến lược phát triển mối quan hệ, bạn có thể tìm đọc 3 quyển :
1) Đắc nhân tâm
2) Đừng bao giờ đi ăn 1 mình
3) Ai che lưng cho bạn
——
GHI NHỚ :
QUAN HỆ SẼ ĐẺ RA TIỀN BẠC.
——

6) SỔ CÔNG VIỆC (QUẢN LÝ THỜI GIAN) :

Mắc chứng khó đọc bẩm sinh, ngay từ nhỏ tỷ phú Richard Branson (sáng lập tập đoàn Virgin) đã luyện cho mình thói quen ghi nhớ mọi việc thông qua ghi chép.

Richard Branson tiết lộ một trong những công cụ quyền lực nhất mà ông có trong bộ thủ thuật kinh doanh thành công. Bạn có thể mong đợi đây là một bí quyết phức tạp hay độc đáo.
Tuy nhiên, trên thực tế, vũ khí bí mật của Branson đề cập tới chính là CUỐN SỔ TAY cũ luôn đi cùng ông tới bất cứ đâu.
Những lưu ý thói quen viết tay – theo ông rất có ích trong công việc quản lý, đàm phán và thậm chí cả các tình huống pháp lý.
Diễn đạt mọi suy nghĩ ra giấy, có lần không mang sổ tay, Branson còn viết lên cả hộ chiếu.
Branson đặc biệt ưa thích dùng bút để viết lên giấy hơn là lướt ngón tay lên bàn phím bởi nó không gây phiền phức hay làm ông tập trung trong một cuộc họp.

———–

CÁCH SỬ DỤNG :

Ví dụ bạn có thể viết ra để sắp xếp và quản lý thời gian như sau :
8h : Làm việc A
10h : Gặp người B
12h: Đi sự kiện C
14h: Làm việc D
16h: Làm việc E
18h : Gặp người F
20h : Làm việc G
22h : Làm việc H
24h : Làm việc I
……
Ngoài ra, bạn có thể dùng nó ghi chép hoặc diễn đạt bất cứ điều gì mà BẠN ĐANG SUY NGHĨ, MONG MUỐN, NHỮNG VẤN ĐỀ hay GIẢI PHÁP …..
SỰ CHUẨN BỊ cho 1 cuộc bán hàng, đàm phán hay gặp gỡ đối tác….
———
Lợi ích của việc sử dụng SỔ CÔNG VIỆC thường xuyên :
1) Do có sự liên hệ đặc biệt về thần kinh giữa ngón tay và trí não, mỗi khi bạn sử dụng bút để viết ra trên giấy là bạn đang tăng cường sự TẬP TRUNG và GHI NHỚ một cách đặc biệt.

Bạn làm cho vấn đề trở nên RÕ RÀNG và SÁNG TỎ.


Ví dụ : Mark Zuckerberg (sáng lập Facebook) lại thường diễn đạt suy nghĩ của mình lên những chiếc bảng trắng ngay từ khi còn là sinh viên đại học.

2) Bạn có thể xem lại 1 sự việc đã xảy ra cách đây 3-5 năm, chính xác vào ngày hôm đó xảy ra việc gì. Thật thú vị phải không ?
——
GHI NHỚ :
Nếu thành công là 1 hành trình, đôi khi xem lại quá khứ bạn sẽ biết được tương lai của mình.
——
Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân :
1) Tôi bắt đầu thực hành 6 quyển sổ từ 2010
2) Ban đầu không quen và hay quên ghi chép
3) Hiện nay duy trì thường xuyên như sau :
+ Sổ thông thái : 3-7 ngày tôi ghi 1 lần hoặc bất thình lình học được hoặc giác ngộ được.
Hiện nay đã ghi chép được 4 quyển dày. Khá nhiều kinh nghiệm hiện nay tôi chia sẻ lại cho học viên chỉ là 1 phần nhỏ các kiến thức mà tôi đã ghi vào sổ này.
+ Sổ mục tiêu & chiến lược : 2 tuần đến 1 tháng tôi ghi 1-2 lần
+ Sổ nhật ký thành công :
Thời gian đầu rất chịu khó ghi (khi cảm xúc tiêu cực nhiều), hiện nay 1-2 tuần mới ghi 1 lần.
Mong muốn duy trì 2-3 ngày ghi 1 lần.
+ Sổ tài chính cá nhân : 3-10 ngày ghi 1 lần
+ Sổ quan hệ : Quản lý trên file excel, 1-2 tháng cập nhật 1 lần.
+ Sổ công việc hàng ngày : Dùng thường xuyên hàng ngày.
THỈNH THOẢNG ĐỌC LẠI TÔI THẤY RẤT THÚ VỊ : Có những điều mà mình không thể tin được do mình viết ra – vì không nhớ gì cả, có 1 số suy nghĩ mà thời điểm này thấy rất buồn cười – vì ngớ ngẩn , và có những điều tôi tiên đoán mơ ước tương lai – nay đã thành sự thật.
——-
LƯU Ý :
1) Nên mua sổ to, bìa chắc chắn để ghi được nhiều.

(hạn chế dùng sổ tay nhỏ do ghi được ít và hay rơi rụng làm mất)


2) Có thể kết hợp cả hai : Ghi Note trên điện thoại hoặc để Online và Sổ giấy tờ

3) Xác định THÓI QUEN quan trọng hơn SỐ TIỀN.
Ban đầu bạn chưa quen nhưng tập dần sẽ quen.
Nhiều người có TƯ DUY của người thành công nhưng họ ko bao giờ thành công.

Lý do ? Họ mới có TƯ DUY mà chưa có THÓI QUEN của người thành công.

4) Thỉnh thoảng quên không ghi, đừng tự dằn vặt và trách móc bản thân.
Hãy tiếp tục. Việc hôm qua đã qua, hôm nay là ngày ta tiếp tục.
TÓM LẠI : 6 quyển sổ thay đổi cuộc đời của bạn gồm :
1) Sổ thông thái
2) Sổ mục tiêu & chiến lược
3) Sổ nhật ký thành công
4) Sổ tài chính cá nhân
5) Sổ mối quan hệ
6) Sổ công việc hàng ngày
——-
Và đừng quên VĂN – TƯ – TU, hãy RA MUA NGAY VÀI QUYỂN SỔ.
GHI CHÉP LẠI những điều mà tôi vừa hướng dẫn bạn vào 1 quyển sổ.
Quyển nào bạn còn nhớ không ?
Rồi 1 ngày, nhìn lại những quyển sổ này của mình, bạn sẽ nghĩ :

Kiến thức này thật bá đạo ! ^ ^

NHỮNG LỜI TÂM SỰ CỦA NHÀ THƠ QUANG DŨNG VỀ THI PHẨM TÂY TIẾN

         Những thông tin bất ngờ chấn động dư luận đã được tiết lộ trong bản ghi chép những lời tâm sự của nhà thơ Quang Dũng về thi phẩm Tây Tiến.

           Những ghi chép theo lời kể của Quang Dũng 
(Vũ Văn Sĩ ghi chép)

       Tôi nhập ngũ đúng ngày cách mạng Tháng tám thành công. Năm đó tôi hai mươi sáu tuổi. Trước cách mạng, tôi học Ban trung học trường Thăng Long. Tốt nghiệp, tôi đi dạy học tư ở Sơn Tây để kiếm sống.
        Những ngày đầu vào quân đội, tôi nhận công tác ở Phòng công vụ Bắc Bộ. Phòng này do anh Nguyễn Văn Chân phụ trách. Tôi làm phái viên của phòng, có nhiệm vụ đi thu mua vũ khí ở vùng Hà Nam – Sơn Tây. Thấy tôi có chút học hành, lại yêu mến văn chương, anh Chân liền giới thiệu tôi lên chiến khu làm công tác báo chí. Ngày đó văn hóa, văn nghệ, báo chí, tuyên truyền trong quan niệm và cả trong công việc, ranh giới không rõ. Như vậy là “sự nghiệp” văn chương của tôi bắt đầu bằng nghề báo. Tôi trở thành phóng viên tiền phương của tờ báo Chiến đấu thuộc Khu II. Tờ báo do anh Văn Phác phụ trách, sau này, anh Văn Doãn lên thay.
         Tôi yêu thơ và làm thơ hoàn toàn ngẫu nhiên. Thời đi học tôi rất mê Đường chi tam bách thủ, nhất là những bài dịch của nhà thơ Tản Đà. Tôi cũng say thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó. Nhưng tôi thích thơ Thế Lữ hơn cả, đặc biệt bài Nhớ rừng, bởi tâm trạng sơn dã của nó. Một nhà văn nữa là Thạch Lam. Thạch Lam không chỉ viết văn mà còn dịch những bài thơ văn xuôi của Pháp. Và có lẽ tôi tiếp thu được gì ở thơ ca Pháp ngày ấy, cũng do đọc các bản dịch này. Khi làm công tác báo chí tôi lại càng thấy thích văn phong của Thạch Lam. Hà Nội ba mươi sáu phố phương của Thạch Lam là một tập bút ký giàu chất thơ. Nhưng phải nói đến một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nga Gôgôn: Tarax Bunba. Tôi yêu những con người Côdắc dũng cảm, yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến công trên những thảo nguyên mênh mông như những chiến khu di động chống lại bọn phong kiến xâm lược bảo vệ nền độc lập dân tộc. Tôi thấy có một sự đồng cảm nào đó giữa mình với các nhân vật của truyện. Sau này đi Tây tiến, tôi vẫn còn mang Tarax Bunba theo trong ba lô của mình.
         Tôi ở báo Chiến đấu đến đầu năm 1947 thì được điều đi học Trường bổ túc Trung cấp (tức Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây). Trường chuyên bổ túc kỹ thuật quân sự cho cán bộ chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu mới.
      Việc mặc áo lính, và là một cán bộ trong quân đội, đối với tôi ngày ấy có ý nghĩa thiêng liêng và tự hào lắm. Những tháng học ở trường, tôi nhớ mãi hình ảnh vị giáo sư quân sự người Nhật như một kiểu mẫu sĩ quan mà chúng tôi mơ ước và kính nể. Giáo sư có cái tên Việt Nam là Lâm Sơn. Đại tá Lâm Sơn. Ông là sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy, thành lập từ ngày đầu kháng chiến. Giáo sư lên lớp bằng tiếng Nhật, có người thông ngôn. Giọng ông sang sảng nghe đầy uy quyền. Kỷ luật trong trường quân sự hồi đó rất nghiêm khắc, nếu như bây giờ có thể gọi là “quân phiệt”. Giờ học đã đành, giờ nghỉ cũng rất “khuôn phép”. Có lần tôi uống cà phê về muộn, cảnh vệ bắt được, cứ lo như ngày nhỏ trốn học bị thầy bắt được. Anh biết sau đó tôi bị phạt thế nào không? Sáng thứ hai đầu tuần, sau lúc chào cờ, đại tá bắt tôi bò bốn vòng quanh cột cờ. Tôi bò mộtcách tự giác, bởi nghĩa rằng, đã mặc áo lính tất phải chịu những hình phạt đại loại như thế, nếu như mình vi phạm kỉ luật.
     Có lần Bác Hồ đến thăm trường. Tôi nhớ Bác còn nói cho chúng tôi nghe một cuốn sách viết về chiế tranh du kích. Vốn giàu óc tưởng tượng về hành động chiến đấu của người lính, tôi rất thú hình ảnh người du kích. Bác nói: “lại vô ảnh, khứ vô hình”, nghĩa là đến và đi không ai thấy. Chỉ nội mấy cái âm chữ Hán, đọc lên nghe đã xuất quỷ nhập thần rồi, chưa nói đến việc vận dụng nó vào chiến thuật quân sự.
     Hôm bế mạc lớp, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng quân đội, và đồng chí Đàm Quang Trung, có đến dự và nói chuyện.
     Sau lớp học, tôi về Trung đoàn Tây Tiến, tức là Trung đoàn 54. Anh Tuấn Sơn làm Trung đoàn trưởng. Tôi ở đại đội bộ, làm đại đội trưởng. Tiểu đoàn 212 của tôi là tiểu đoàn trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát Bi, Bạch Mai… bây giờ chuyển sang nhận nhiệm vụ Tây Tiến.
Tây Tiến là một chiến dịch tiến quân từ Khu III, Khu IV lên Khu X tức là Tây Bắc, vùng Điện Biên Phủ. Đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Năm 1945 khi khắp nơi nổi dậy cướp chính quyền thì nhân dân vùng này nhiều nơi vẫn chưa được giác ngộ cách mạng. Nam 1946, trung đoàn Sơn La có đánh vào Tây Bắc, nhưng mới chỉ có ý nghĩa thăm dò. Đầu năm 1947 ta thành lập Trung đoàn Tây Tiến  đầu tiên, gồm các chiến sĩ tình nguyện của Khu III, Khu IV và tự vệ Thành Hà Nội trước thuộc Trung đoàn Thủ đô. Đợt Tây Tiến đầu tiên, ta đánh sâu nhưng phải rút lui ngay, vì lực lượng địch tập trung và mạnh. Tôi đi đợt hai. Nhiệm vụ của chúng tôi là mở đường qua đất Tây Bắc. Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là công tác dân vận gây dựng cơ sở, tranh thủ sự giác ngộ của nhân dân. Vì thế đi đôi với chức vụ đại đội trưởng, tôi còn dược cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào - Việt.
Giai đoạn này Hà Nội đang có tiếng súng ở ngoại thành. Chúng tôi xuất phát từ Sơn Tây. Lúc đầu rất đàng hoàng đi bằng ô tô, các ôtô nổi tiếng lúc bấy giờ như của hãng Con Thỏ, Trung Hà, Từ Đường, Mỹ Lâm… đều được Chính phủ công làm nhiệm vụ quân sự. Chúng tôi đi qua đường số 6 qua suối Rút. Thị trấn Hoà Bình năm ấy còn tự do. Sau, chúng tôi chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến: mưa rừng, ngủ rừng. Những cái dốc thăm thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”, rồi rải rác dọc biên cương những “nấm mồ viễn xứ”… tôi mô tả trong bài thơ Tây Tiến là rất thực, có pha chút âm hưởng “Nhớ rừng” của Thế Lữ, mà sau này vô tình tôi mới nhận ra… trong bài thơ Tây Tiến, tôi còn viết “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc”. Hồi ấy trong đoàn chúng tôi rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu. Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn, mình lại không giữ vệ sinh, và lại có giữ cũng chả được, nên bộ đội không những bị ốm, mà còn chết vì sốt rét rất nhiều. Chúng tôi đóng quân ở nhà dân, cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một con người vĩnh biệt rừng núi. Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn đến nẫu ruột. Kể chuyện lại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng. Anh Như Trang hồi ấy là tiểu đoàn phó, có viết ca khúc tiếng cồng quân y là vì vậy.
Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó. Tôi nhớ có lần được thuốc từ Khu II gửi lên. Cụ Thi Sơn trong Mặt trận Liên Việt tặng thuốc (nguyên cụ Thi Sơn là tướng của Đề Thám). Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, Anh Hồng Thanh, chính uỷ Trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận thuốc. Anh còn làm cả thơ. Tôi còn nhớ mấy câu:
Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ

Từ bệnh nhân đến bác sĩ đều vui

Vì được tin kháng chiến chiến Khu II

Vừa gửi tặng 3.000 viên thuốc sốt…

     Không hiểu cảm động vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh Hồng Thanh đọc xong, ai cũng rưng rưng nước mắt...
    Tôi muốn gợi thêm một ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái gian khổ, thiếu thốn ở miền Tây. Ngay cả khi nằm xuống, nhiều tử sĩ cũng không có đủ manh chiếu liệm. Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơ trước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa đường.
       Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III, làng Phù Lưu Chanh (tên một tổng của Hà Nam thời Pháp). Tôi làm thơ rất nhanh, làm xong đọc trước Đại hội, được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đại biểu nhà văn ở Việt Bắc về dự, lúc đi, tôi gửi anh luôn. Sau anh Xuân Diệu cho in ngay ở Tạp chí Văn nghệ. Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy. Tôi chả có chút lý luận gì về thơ cả. Dẫu sao bài thơ Tây Tiến có cái hào khí của lãng mạn một thời gắn với lịch sử kháng chiến anh dũng của dân tộc… Từ Tây Tiến trở đi tôi làm nhiều thơ hơn. Các bài “Đường mươi hai”, “Ngược đường số 6”, “Đôi mắt người Sơn Tây” cũng là những bài thơ mà tôi thích.
       Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, tôi về làm trưởng tiểu ban tuyên huấn của Trung đoàn 52… Rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III.
    Tháng 8 năm 1951, tôi xuất ngũ. Còn cái trung đoàn Tây Tiến của tôi, hình như sau này được phân chia, bổ sung để thành lập sư đoàn 320 thì phải.

Saturday, July 14, 2018

Bí mật chưa từng biết với các học sinh khi học tác phẩm Làng của Kim Lân

Phần tác phẩm Làng bị cắt trong sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 9

Bấy lâu nay, có rất nhiều các bạn học sinh được học tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân, vẫn thường nghe các cô giáo kể chuyện về "tính khoe làng" của ông Hai nhưng không biết thực hư như thế nào.
Chính vì thế tôi sẽ đăng phần đầu bị cắt ở tác phẩm Làng để các bạn tiện tham khảo:


Tối nào cũng vậy, cứ đến lúc con bé lớn ông Hai Thu thủ que đóm cháy lập lòe trong chiếc nón rách tất tả đi từ nhà bếp lên, và bà Hai ngồi ngây thuỗn cái mặt trước đĩa đèn dầu lạc, lầm bầm tính toán những tiền cua, tiền bún, tiền chuối, tiền kẹo... thì ông Hai vùng dậy, sang bên bác Thứ nói chuyện. Không hiểu sao cứ đến lúc ấy ông Hai lại thấy buồn. Nằm nghe tiếng súng dội trong đêm tối và nhất là cái tiếng rì rầm tính toán tiền nong của mụ vợ, tự nhiên ông sinh ra nghĩ ngợi vẩn vơ, nó bực dọc làm sao ấy. Mà ông, thì không thích nghĩ ngợi như thế một tý nào. Ông vốn là người hay làm, ở quê ông làm suốt ngày, không mấy lúc chịu ngơi chân ngơi tay. Không đi cày đi cuốc, không gánh phân tát nước thì ông cũng phải bày vẽ ra công việc gì để làm: đan rổ, đan rá hay chữa cái chuồng gà, cạp lại tấm liếp. Từ ngày tản cư lên đây, suốt ngày mấy bố con nhong nhóng ngồi ăn, tối đến lại nghe những tiếng rì rầm tính toán ấy, ruột gan ông cứ nóng lên như lửa đốt. Ông phải đi chơi cho khuây khỏa. Lần nào cũng như lần nào, cứ vừa nhô đầu qua cái mái lá bên gian bác Thứ là ông lão hỏi ngay: 
- Thế nào, hôm nay có gì không bác? Không đợi trả lời, ông lão nói luôn: 
- Này Đácgiăngliơ nó lại về Pháp đấy nhé. Hừ, chơi vào! Còn là đi đi về về! Hoặc: 
- Báo Cứu quốc hôm nay nghe sướng quá. Cụ Hồ đối đáp với các nhà báo ngoại quốc đâu vào đấy. Cứng rắn mà lại mềm mỏng lắm. Cụ bảo rằng thì là dân ta chỉ muốn Độc lập và Thống nhất thôi, không thì dân ta đánh đến cùng. Thật đấy, chuyến này không được Độc lập thì chết cả đi chứ sống làm gì cho nó nhục. Mà có khi nào mình lại không Thống nhất, Độc lập được hở bác? Rồi ông nói đến chuyện tản cư, chuyện Tây khủng bố, chuyện Việt gian, chuyện thổ phỉ... những chuyện ông lượm được hồi trưa, ở ngoài điếm. Cả chuyện chính trị, quân sự nữa. Ta bố trí nó thế này, ta bố trí nó thế kia. Ta chính trị nó thế này, ta chính trị nó thế khác. Rất trơn tru, rất thành thạo mà chẳng đâu vào đâu cả. Ông lão kéo dài một bên ria mép ra, tủm tỉm: 
- Cũng là học lỏm cả thôi đấy bác ạ... Chả là tôi cũng là phụ lão cứu quốc mà... Và cuối cùng, khi câu chuyện tin tức hàng ngày đã nhạt rồi, thì ông xoay đến chuyện cái làng của ông. Ông nói chuyện về cái làng ấy một cách say mê và náo nức lạ thường. Hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mặt biến chuyển, hoạt động. Ông khoe làng ông có cái phòng thông tin tuyên truyền sáng sủa rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh thì cao bằng ngọn tre, chiều chiều loa gọi cả làng đều nghe thấy. Ông khoe làng ông nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh. 
Đường trong làng toàn lát đá xanh, trời mưa trời gió tha hồ đi khắp đầu làng cuối xóm, bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm, phơi thóc thì tốt thượng hạng, không có lấy một hạt thóc đất. Ông Hai vẫn có tính khoe làng như thế xưa nay. Hồi còn đế quốc Pháp, mỗi bận đi đâu xa, khoe làng ông chỉ khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng ông. Ông có vẻ hãnh diện cho làng có được cái sinh phần ấy lắm: "Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi. Có lăm lắm là của. Vườn hoa, cây cảnh nom như động ấy. Thấy bảo còn hơn cái lăng cụ thiếu(*) Hà Đông nhiều cơ mà!" Mỗi bận có khách bên họ ngoại ở dưới tỉnh Nam lên chơi, thế nào ông lão cũng phải dắt ra xem lăng cho kỳ được. Ông mê man giảng giải cho họ: cái tượng đá này là ông Hoàng Thạch Công đánh rơi giày. Những người bằng sứ kia là “Bát tiên quá hải”. Cái ông đắp bằng xi măng lù lù ở giữa hồ bát giác kia là là... lấy kiểu tận xa lắm, đâu như tận bên chùa Đế Thích. Còn như cái cọc sắt nhọn hoắt cắm vào cái bầu rượu có đắp bốn con giơi quét vôi vàng mãi tít trên ngọn sinh phần kia là máy thu lôi. Khiếp lắm! Sấm sét là thu tất cả vào trong ấy. 
- Chả nguyên là "cụ tôi" phòng sau này nằm xuống bất hạnh sét có đánh phải cũng không việc gì mà. Xem! Trí lực của người ta có khiếp không? 
Ông lão vừa nói vừa nhìn vào cái bộ mặt lì xì của người bà con họ bên ngoại giãn ra vì kinh ngạc ấy mà ông lão hả hê cả lòng. Ông thấy cái lăng tẩm ấy một phần như có ông. Nhưng từ ngày khởi nghĩa thì người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa. Ông đã bảo ông thù nó cơ mà. Cái lăng ấy nó làm khổ ông, nó còn làm khổ bao nhiêu người làng này nữa. Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. Có người ốm, có người chết, có người làm mấy tháng trời không được đồng công nào. Cái chân ông đi khập khễnh bây giờ cũng vì cái lăng ấy. Ông bị một chồng gạch đổ vào bại một bên hông. Bây giờ khoe làng, ông lão lại khoe khác. Ông khoe những ngày khởi nghĩa dồn dập ở làng, mà ông gia nhập phong trào từ thời kỳ còn bóng tối. Những buổi tập quân sự. Cả giới phụ lão có cụ râu tóc bạc phơ cũng vác gậy đi tập một hai. Mỗi lần hô động tác, anh huấn luyện viên lại phải đệm tiếng ạ... thườn thượt đằng sau: "Nghiêm ạ!... Nghỉ ạ!... Vác súng lên vai ạ!...". Nhất là những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì làm công trình không để đâu hết. Ông lão kể rành rọt từng cái một. Cái thì đắp ở đầu xóm Ba Khu, cái thì xây ở Ngõ Mái, cái thì xẻ thông từ đầu phố trên đến tận đầu phố dưới. Cửa mạch nhà nào cũng đục, có thể đi suốt làng không phải ra đến đường cái. Cũng có khi ông lão lại ngậm ngùi kể lại những chuyện ngày xửa ngày xưa nào không biết, ông bị bọn hương lý trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán. Cứ như vậy, suốt cả buổi tối, ông lão ngồi vén quần lên tận bẹn trên chiếc chõng tre nhà bác Thứ mà nói liên miên hết cái đường xóm kia tốt, cái giếng xóm kia trong với những chuyện đẩu chuyện đâu về cái làng của ông lão, làm như bác Thứ cũng quen biết và bận tâm đến những thứ ấy lắm. Thực ra ông lão chỉ nói cho sướng miệng và đỡ nhớ cái làng của ông chứ cũng chẳng chú ý gì đến người nghe có thích nghe lắm không. Đôi khi thấy mình mải nói quá, mà bác Thứ hình như lơ đễnh những đâu đâu, ông lão lại nhắc: 
- Cậu vẫn nghe đấy chứ? Thì bác Thứ giật mình, trả lời vội vàng: 

- Có! Có! Tôi vẫn nghe đây, ông kể nốt đi... Thế là ông lão lại kể. Nhưng cũng có nhiều bận đang ngồi nói mải mê như vậy bỗng dưng ông ngắc lại, mặt ông thần ra, ông nghĩ ngợi một lúc lâu rồi thủ thỉ: 

- Chuyến này bước chân ra đi... Năm năm, ba năm hay mươi mười lăm năm, không biết có còn về được đến làng đến nước nữa không đây. Ông lão im lặng, thở dài: 
- Nó chết một cái nhà tôi neo người quá, phải đi, chứ những như một mình tôi, thì tôi ở lại làng với anh em cơ đấy. Quê cha đất tổ một lúc rứt ruột bỏ đi làm gì mà không đau xót hả bác?... 
                                                           * * *
Thực tình ông Hai không muốn tản cư lên trên này một tí nào. Trong làng còn có một số anh em ở lại, họ quây quần với nhau khoảng chừng năm, sáu nóc nhà giữa làng. Ngày ngày cùng anh em đi đào đường đắp ụ, công việc bề bộn, ông chẳng còn kịp nghĩ gì đến vợ con, nhà cửa nữa. Năm bảy lần bà Hai nhắn về thúc phải lên ngay, ông chỉ nhăn mặt kêu: "Công việc đang như lửa đốt thế này đã lên thế nào được". Hôm bà Hai về đón, ông lão lại toan không đi. Ông nghĩ: mình sinh sống ở cái làng này từ tấm bé đến giờ. Ông cha cụ kỵ mình xưa kia cũng sinh sống ở cái làng này đã từ bao nhiêu đời nay rồi. Bây giờ gặp phải cái lúc hữu sự như thế này mình lại đâm đầu bỏ đi còn ra thế nào nữa. Công việc là công việc chung chứ của riêng mình ai? Ông lão bảo vợ: 
- Tôi thì tôi không đi được đâu. Mẹ con mày trên ấy liệu bảo nhau xoay xỏa mà làm ăn. Ở nhà rồi tôi cũng cố cày cấy, thêm thắt vào tôi gửi lên cho, tản cư thì cũng phải thiếu thốn một tý chứ, lại như ngày trước thì có đâu. Nhưng bà Hai khóc lóc, bà năn nỉ bắt ông phải đi, bà bảo: 
- Thế ông định bỏ mẹ con tôi chết đói à? Ông phải lên trông nom chúng nó cho tôi xoay xỏa chứ. Rồi bà khẩn khoản nói với mọi người, khẩn khoản với đồng chí thôn đội trưởng, mọi người đồng ý để ông Hai đi, ông Hai đành phải nghe theo. Ông buồn khổ lắm, nhưng cũng không biết làm thế nào. Tình cảnh mẹ con chúng nó quả là có gieo neo thật. Một nách ba đứa con dại, vốn liếng lại chẳng có, cứ nhong nhóng ôm con ở nhà thì lấy gì mà ăn? Nhà có người đàn ông nó như nhà có nóc ấy. Ông lên rồi làm thuê làm mướn thêm cặp vào cũng đỡ vực được ít nhiều. "Thôi thì chẳng ở lại làng cùng anh em được, thì tản cư âu cũng là kháng chiến". ... 
Những ngày đầu ở trên này công việc không có, trong người ông lão lúc nào cũng bực bội. Ông ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm. Xin được miếng đất sau nhà, ông hậm hụi cuốc xới suốt ngày, vừa được mấy luống rau cải, bén chân thì đàn gà nhà chủ ra vặt trụi tiệt. Ông lão cáu lắm. Không thể cáu được với ai ông quay ra cáu với vợ con. Hơi một tý là gắt, hơi một tý là chửi, lắm khi chuyện chẳng đâu vào đâu, ông cũng khơi ra cho to để gây sự. "Chúng mày làm khổ ông! Chúng mày làm khổ ông vừa vừa chứ! Ông thì giết hết, ông thì giết hết!". Mỗi lần ông lão bước chân ra khỏi cái gian nhà tối thấp bề bộn những bồ, bị, nồi, niêu, và những dây quần áo ẩm sì ấy là mặt ông lão nhẹ nhõm, tươi tỉnh hẳn lên. Sao mà ông lão sợ cái gian nhà ấy thế! Nhất là những buổi trưa im ắng, oi ả, có tiếng mụ chủ nhà nói nheo nhéo ở bên ngoài, thì ông lão không sao chịu được. Ông lão phải đi cho nó khuất. Ông Hai chưa thấy người đàn bà nào tham lam, tinh quái như mụ ta. Người thì gầy đét như thanh củi khô. Cái miệng mỏng lèo lèo, nói cứ liến đi, mà chúa thần là gian. Không vào nhà thì thôi, động vào nhà là nhòm. 
Mụ nhòm xó này một tí, nhòm xó kia một tí, rồi lục. Mụ giơ lọ tương lên ngắm rồi đặt xuống, mụ mở thạp gạo ra xem, lại đậy vào, mụ lục bồ moi chiếc áo ra ướm thử vào người, rồi ném trả. Hình như trong ý mụ, mụ nghĩ: chúng mày ở nhà tao, thì những thứ của chúng mày cũng như của tao. Đồ ăn thức đựng của mụ, mụ cất kỹ đi. Con dao, cái chậu, bó củi của người ta mụ dùng tự nhiên, hồ cất đi, mụ lại lôi ra. Không tìm thấy thì mụ nói móc, nói máy như chính mụ bị người ta hà hiếp. Đến cả cái ăn, cái uống mụ cũng rây phần vào. Có cái nồi nước giải mua để tăng gia một tí, mụ cũng lấy hết. Trong nhà động có thức gì mụ đã biết rồi. Không một hôm nào bà Hai ở quán về mụ không sấn đến vạch thúng ra xem. 
- Ái chà! Nhà này có mớ cá ngon gớm, chiều tớ phải xin một bát mấy được. Thế là chiều mụ sai con bưng bát đến xin. Mụ đẩy lưng thằng bé: 
- Con cứ xuống mà xin, tội gì. Có cái gì ăn giấu, mà mụ biết thì mụ đánh hơi. Mụ đứng giữa nhà, hếch cái mũi lên hít hít: 
- Có cái gì mà thơm gớm, y như mùi bánh rán ấy anh em ạ. Mẹ kiếp nhà này nó giấu. Cứ lâu lâu, mụ lại vay tiền. Lúc mua trầu vỏ, lúc mua diêm thuốc, mớ rau, con cá... Có đòi thì mụ chủng chẳng: 
- Tớ trừ vào tiền thuê nhà đấy. Mụ cười rất nhạt: 
- Nói đùa đấy chứ, mai tớ cuốc mẻ sắn tớ bán tớ khắc trả. Và mụ tiếp luôn: 
- Này, nói thì bảo là tham, cái nhà ông Hai này, với bác Thứ bên kia ở, thật tớ đếch được cái gì, ở xóm dưới, cánh hàng xáo họ ở, họ nuôi lợn được vô khối là "khuẩn". Nói thật, tớ cho ở nhờ chỉ chủ có mỗi cái "khuẩn" thôi... 
Ngay từ dạo mới lên, ông Hai đã bực mình với mụ ấy lắm rồi. Nghe xóm giềng ở đây người ta nói, ông biết mụ không phải là người đứng đắn. Mụ lấy đến người chồng này là đời chồng thứ ba rồi; hai người trước, người thì người ta bỏ mụ, người thì mụ bỏ người ta. Tính nết lành chanh lành chói, chỉ bắt nạt chồng. Người chồng thì lại hiền lành quá, cả ngày cặm cụi làm. Vợ nói, có tức lắm thì cũng chỉ đỏ mặt lên văng tục văng giác mấy câu rồi thôi. Ông Hai ghét mụ chủ lắm. Ông không muốn ở chung ở chạ với những người như thế. Năm lần bảy lượt ông bảo vợ dọn nhà đi nơi khác. Nhưng bà Hai cứ lần chần. Bà bảo: 
- Biết rằng đâu hơn đâu, hay là lại quá tội. Trong làng ngoài phố nhà nào cũng ba bốn bếp tản cư cả. Có được chỗ chui ra chui vào như thế này là may mắn lắm rồi còn gì nữa. Ông lão đành phải dùi dắng chờ vậy. 

* * *
Buổi trưa hôm ấy ông Hai ở nhà một mình. Con bé lớn gánh hàng ra quán cho mẹ chưa thấy về. Hai đứa bé thì ông cắt chúng nó ra vườn trông mấy luống rau mới cấy lại chẳng gà vặt hết. Ông Hai hì hục vỡ một vạt đất rậm...